Thứ Sáu, 29 tháng 4, 2016

NGUYÊN NHÂN CỦA TỘI PHẠM

NGUYÊN NHÂN CỦA TỘI PHẠM


Nguyên nhân của tội phạm là nội dung cốt lõi của tội phạm học. Ngay từ thời cổ đại, các học giả đã đặt ra câu hỏi lớn: Tại sao con người lại phạm tội? Lí đô gì đã thúc đẩy con người phạm tội hay nguyên nhân của tội phạm' là gì. Cho đến khi tội phạm học được hình thành và phát triển, câu hỏi này vẫn tồn tại và luôn là vẩn đề “nóng hổi” được đặt ra cho các nhà khoa học phải tiếp tục nghiên cứu.
Việc nghiên cứu nguyên nhân của tội phạm đóng vai trò quan trọng ừong tội phạm học, Sau khi nghiên cứu về tình hình tội phạm, nhà nghiên cứu cần tiếp tục nghiên cứu ván đề nguyên nhân của tội phạm để từ đó mói có thệ xây dựng được các biện pháp phòng ngừa tội phạm sát họp với thực tế, có thể hạn chế hoặc loại trừ được nguyên nhân phát sinh tội phạm, ngăn chặn hiệu quả tội phạm xảy ra trong xẩ hội. Việc xây dựng biện pháp phòng ngừa tội phạm không thể chỉ dựa ừên tình hình tội phạm mà phải gắn kết với nguyên nhân của tội phạm. Trên cơ sở đó, các biện pháp phòng ngừa mói có thể giải quyết tận gốc, ừiệt để nguyên nhân phát sinh tội phạm, từ đó, ảnh hưởng tói hiệu quả của việc ngăn ngừa tội phạm xảy ra trên thực tế.
Tội phạm là hiện tượng cỏ tính chất cá nhân và xẫ hội. Do đó khi tìm hiểu về nguyên nhân của tội phạm phải nghiên cứu cà nguyên nhân bắt nguồn từ phía xã hội và nguyên nhân xuất phát từ cá nhân người phạm tội, sự tác động của nguyên nhân xẫ hội tới cá nhân dẫn đến sự hình thành nhân cách lệch ỉạc của cá nhân người phạm tội, từ đó phát sinh tội phạm.
 Bên cạnh đó cũng cân tìm hiểu cả tình huống cụ thể bởi vì trong một số trường hợp, tình huống đỏng vai trò như là nguyên nhân phát sinh tội phạm. Khi nghiên cứu về nguyên nhân của tội phạm, không nên chi phân tích cảc nguyên nhân bên ngoài như nguyên nhân thuộc về kinh tế xã hội; nguyên nhân thuộc về văn hoá, tư tưởng; nguyên nhân thuộc về tổ chức, quản lí xã hội... mà không chú trọng vấn đề nguyên nhân từ phía người phạm tội (yếu tố sinh học, tâm lí của người phạm tội) cũng như sự tác động của nguyên nhân từ bên ngoài đến quá trình hình thành nhân cách lệch lạc của cá nhân. Tìm hiểu nguyên nhân của tội phạm đòi hỏi phải tìm hiểu cả nguyên nhân từ phía người phạm tội với những tố chất sinh học và đặc điểm tâm lí riêng biệt cũng như quá trình hình thành nhân cách lệch lạc của họ do chịu sự tác động của môi trường sống. Hơn nữa, các nguyên nhân phát sinh tội phạm không có vị trí tương đương nhau. Ở vụ án cụ thể, nguyên nhân nào đó có thể giữ vai trò quyết định, còn các nguyên nhân khác chỉ là hỗ ừợ, thúc đẩy cho việc thực hiện tội phạm nhưng ở vụ án khác, các nguyên nhân này có thể hoán vị cho nhau và một hoặc một số nguyên nhân khác lại giữ vai trò quyết định trong việc phát sinh tội phạm.
Xem: John Howard Society of Canada, nguồn: http://www.johnhoward.ca, Canadian Council on Social Developmcnt.
Do đó, nghiên cứu nguyên nhân của tội phạm phải nghiên cứu nguyên nhân bắt nguồn từ phía xã hội và nguyên nhân xuất phát từ cá nhân người phạm tội, sự tác động qua lại giữa các nguyên nhân. Người nghiên cứu cần có cải nhìn toàn diện khi đánh giá về nguyên nhân phát sinh tội phạm, tránh kiểu áp đặt ý chí chủ quan, không dựa trên cơ sở nghiên cứu khách quan. Bên cạnh việc xác định những yếu tố được coĩ là nguyên nhân của tội phạm, cũng cần làm rõ cơ chế tác động cùa chúng làm phát sinh tội phạm.

Để làm rõ nguyên nhân của tội phạm, người nghiên cứu thường sử dụng các phương pháp: thổng kê, nghiên cứu mẫu và nghiên cứu thực nghiệm. Khi nghiên cứu về nguyên nhân của tội phạm, người nghiến cứu thường đưa ra giả tnúyểt và sau đó phải có số liệu cụ thể để minh chứng cho giả thuyết đó. Chỉ như vậy thì giả thuyễt mới trở thành nhận định có độ tin cậy, thuyết phục. Ví dụ: Với giả thuyết cho rằng nguyên nhân củấ tội phạm là do người phạm tội quấ'nghèo, thất nghiệp nên họ phải phạm tội để tồn tại thi người nghiên cứu phải chỉ ra được trong tổng sổ tội phạm đã nghiên'cứá, số vụ phạm tội thuộc trường họp nối trên chiêm tỉ lệ % đáng kể. Nếu nhận định về nguyên nhân của tội phạm mà không có 'Số liệu niĩhh chứng kèm theo thì đó chỉ lằ nhận định mang tính chủ quan của người nghiên cứu, không đáng tin cậy và nhận định này không thể là cơ;sở để dựa vào đỏ xây dựng biện pháp phòng ngừa tộỉ phạm sát họp. cần chú ý là khi nghiên cứu về nguyên nhân của tội‘ phạm, việc chọn mẫu nghiên cứu phải là ngẫu nhiên,'diện rộng thì sự phản ánh hiện thực khách quàn mới đảm bảo chính xác. Khi đưa ví dụ cụ thể để minh hoạ, cần chọn từ những mẫu ngẫu nhiên một số vụ việc có tính chất điển hình để làm rõ nhận định của người nghiên cứu là chân thực, tin cậy.
Xem thêm : Thủ tục thành lập doanh nghiệp mới 

DIỄN BIẾN CỦA TỘI PHẠM (Phần 2)

DIỄN BIẾN CỦA TỘI PHẠM (Phần 2)


Nghiên cứu diễn biến của tội phạm đòi hỏi trước hết là so sánh các số liệu phản ánh thực trạng của tội phạm xét về mức độ (đặc điểm định lượng). Đó là so sánh số tổng tội phạm và số tổng người phạm tội của từng năm so với năm gốc (năm đầu của đơn vị thời gian nghiên cứu) và so với năm trước đó. Qua so sánh cần   ra được xu hướng vận động (ổn định, tăng hoặc giảm) và mức độ vận động (tốc độ tăng hoặc giảm).
Các con số phản ánh tội phạm về xu hướng vận động nói trên cần được thể hiện trên các bảng số liệu và đặc biệt là trên các đồ thị I hình thức trình bày phù hợp nhất mà qua đó có thể thấy ngay được sự vận động của tội phạm trong đơn vị thời gian nghiên cứu. Để đánh giá khái quát diễn biến của tội phạm xét về lượng cũng có thể sử dụng các công thức khác nhau trong việc tính chỉ sổ gia tăng cùa tội phạm.
Nghiên cứu diễn biến của tội phạm, ngoài việc đánh giá xu hướng vận động của tội phạm xét về đặc điểm định lượng còn đòi hòi phải so sánh các số liệu phản ánh thực trạng của tội phạm xét về tính chất (đặc điểm định tính). Đây là đòi hỏi phức tạp hơn nhưng cũng quan ừọng hơn. Khi nghiên cứu diễn biến cùa tội phạm xét về đặc điểm định lượng, chỉ cần đánh giá hai loại số liệu - số liệu về tổng tội phạm và số liệu về tổng người phạm tội. Đó là yêu cầu chung cho tất cả các trường hợp được nghiên cứu. Nhưng khi nghiên cứu diễn biến của tội phạm xét vể đặc điểm định tỉnh thì vẩn đề không đơn giản như vậy.
Người nghiên cứu phải tự dự kiến các loại số liệu phản ánh thực trạng của tội phạm xét về tính chất cần được so sánh - so sánh để thấy được xu hướng vận động. Đó có thể là các số liệu hàng năm trong phạm vi nghiên cứu về loại tội (tỉ lệ tội cố ý; tỉ lệ tội đặc biệt nghiêm trọng; rất nghiêm ừọng hoặc nghiêm trọng), về hình thức phạm tội (tỉ lệ vụ phạm tội với hình thức đồng phạm và đồng phạm có tổ chức), về công cụ, phương tiện phạm tội (tỉ lệ các vụ phạm tội có sử dụng vũ khí, vũ khí nóng v.v), về thủ đoạn phạm tội (tỉ lệ vụ phạm tội có lợi dụng chức vụ, quyền hạn v.v.), về tính chất và mức độ của hậu quả, về nhân thân người phạm tội (tỉ lệ người phạm tội thuộc trường hợp tái phạm, tái phạm nguy hiểm; ti lệ người phạm tội là người chưa thành niên v.v.), về động cơ phạm tội (ti lệ vụ phạm tội cóđộng cơ tư lợi, v.v.), về nạn nhân (tỉ lệ nạn nhân là trẻ em, là người chưa thành niên V.V.)
Các loại số liệu nêu trên chi là các ví dụ có tính chất để tham khảo. Sử dụng loại số liệu nào và cách sử dụng như thế nào cũng như cần thêm loại số liệu nào là hoàn toàn do người nghiên cứu quyết định để phục vụ cho việc đánh giá xu hướng vận động của tội phạm xét về tính chất.
Nghiên cứu diễn biến của tội phạm để thấy được xu hướng vận động của hiện tượng tội phạm. Nhưng việc nghiên cứu này cũng đồng thời đòi hỏi phải giải thích được nguyên nhân của sự vận động, đặc biệt là các biển động bất thường. Sự giải thích này là một trong các cơ sở giúp cho việc dự báo tội phạm cũng như việc đề ra các biện pháp phỗng ngừa tội phạm.

DIỄN BIẾN CỦA TỘI PHẠM (Phần 1)

DIỄN BIẾN CỦA TỘI PHẠM (Phần 1)


Diễn biến của tội phạm là sự thay đổi thực trạng của tội phạm xét về mức độ và về tính chất theo thời gian ừong đơn vỉ thời gian xác định.
Diễn biến của tội phạm là một ừong những nội dung của tình hình tội phạm mà việc phân tích nội dung này cho phép dự đoán xu hướng vận động của tội phạm trong thời gian tiếp theo.
Để đánh giá nội dung này của tình hình tội phạm người nghiên cứu phài dựa trên các kết quả thu được về thực trạng của tội phạm theo từng năm trong đơn vị thời gian nghiên cứu. Kết quả phản ánh thực trạng của tội phạm ở năm thứ nhất của đơn vị thời gian nghiên cứu được coi là kết quả gốc. Kết quả thu được về thực trạng của tội phạm trong các năm tiếp theo được đối chiếu với kết quả gốc và với kết quả của năm trước đó. Ket quả so sánh cho phép người nghiên cứu khẳng định xu hướng vận động và mức độ vận động của tội phạm trong đơn vị thời gian nghiên cứu (5 năm, 10 năm hoặc một đơn vị thời gian nhất định khác). Xét về mức độ, đó có thể là: tương đối ổn định, có xu hướng tăng, có xu hướng giàm hoặc trong tình trạng dao động khi tăng khi giảm. Xét về tính chất, có thể có các nhận xét về sự ổn định hay thay đổi của tính nghiêm trọng nói chung hay của tính nghiêm trọng ở một khía cạnh cụ thể như khía cạnh tái phạm, khía cạnh chủ thể là người chưa thành niên hay khía cạnh mức độ, tính chất của hậu quả cùa tội phạm V.V..
Như đã trình bày, đánh giá tình hình tội phạm đòi hỏi phải đánh giá tình hình tội phạm thực, bao gồm cả tội phạm rõ và tội phạm ẩn. Đặc biệt, khi đánh giá diễn biển của tội phạm lại càng phải chú ý đến điểu này. Đánh giá diễn biến của tội phạm khi dựa trên số liệu tội phạm rõ chỉ đảm bảo độ chính xác khi độ ẩn có sự ổn định tương đối.
Hiện nay, khi nói đến diễn biến của tội phạm các tác giả nghiên cứu thường chỉ đề cập sự diễn biến về mức độ. Theo đó, các số liệu được dùng để đánh giá diễn biến chỉ được bó hẹp trong hai loại số liệu là số liệu về tổng tội phạm đã xảy ra và tổng người phạm tội đã thực hiện các tội phạm đã xảy ra đó.
 Đánh giá về diễn biến của tội phạm như vậy mới chỉ là đánh giá sự thay đổi của tội phạm xét về mức độ. Đánh giá này chưa phản ánh được đầy đủ sự thay đổi cùa tội phạm vỉ chưa đánh giá được sự thay đổi của tội phạm xét về tính chất. Đe đánh giá được đúng sự vận động của tội phạm xét về tính nghiêm trọng cần phải xét cả hai sự vận động ,vận động của tội phạm xét về mức độ và vận động của tội phạm xét về tính chất. Hai sự vận động này có thể không tỉ lệ thuận với nhau và cũng có thể không cùng “tốc độ”.

Như vậy, ngoài hai loại số liệu về mức độ các số liệu khác phản ánh các cơ cấu bên trong của tội phạm đều phải được đánh giá để có được nhận xét về xu hướng vận động của tội phạm xét về tính chất. Các loại số liệu này không có tính cố định như hai loại số liệu phản ánh sự vận động của tội phạm xét về mức độ, Tùy từng loại tội phạm được nghiên cứu mà cần. Có các số liệu tương ứng của các cơ cấu khác nhau của tội phạm mà các cơ cấu đó phản ánh được thực trạng của tội phạm xét về tính chất.

Xem thêm : Thủ tục thành lập doanh nghiệp mới 

THỰC TRẠNG CỦA TỘI PHẠM (Phần 4)

THỰC TRẠNG CỦA TỘI PHẠM (Phần 4)
Cơ cấu theo một số đặc điểm của hành vi phạm tội: Theo cơ câu này thì đặc điểm của hành vi phạm tội cần được xác định và thống kê trước hết là: Công cụ, phương tiện phạm tội; thủ đoạn phạm tội; thời gian, địa điểm phạm tội; hoàn cảnh, động cơ cũng như lí do dẫn đến hành vi phạm tội.


- Cơ cấu theo loại và mức độ hậu quả của tội phạm: Theo cơ cấu này thì hậu quả của tội phạm cần xác định và thống kê là thiệt hại về thể chất (chết người; thương tích và mức độ thương tích) và thiệt hại về vật chất (tính ra tiền).
- Cơ cấu theo một số đặc điểm nhân thân của người phạm tội: Theo cơ cấu này thì đặc điểm nhân thân của người phạm tội cần được xác định và thống kê trước hết là: Người phạm tội là người chưa thành niên, là người tái phạm, tái phạm nguy hiểm; hoặc là đặc điểm về nghề nghiệp, về địa vị xã hội, về trình độ văn hoá, về hoàn cảnh gia đình...
- Cơ cấu theo một số đặc điểm nhân thân của nạn nhân: Theo cơ cấu này thì nạn nhân cần được xác định và thống kê trước hết là phụ nữ, trẻ em.
- Các số liệu phục vụ nghiên cứu các cơ cấu của tội phạm một phần cũng đã được thể hiện ừong thống kê tội phạm và phần còn lại buộc người nghiên cứu phải tự thu thập, thống kê theo yêu cầu riêng. Đây là công việc không đơn giản vằ trong nhiều trường họp không thể có được dữ liệu một cách ổầy đủ.
Công cụ hỗ trợ việc mô tả cơ cấu của tội phạm có thể được sử dụng là các bảng số liệu và các loại biểu đồ cũng giống như khi mô lả thực trạng của tôi phạm xét về mức độ.
Trên cơ sờ két quả mô tả các cơ cấu cần thiết có thể phân tích để rút ra các đánh giá đọiyói thực trạng của tội phạm xét về tính chất.
Khi nghiên cứu tình hình tội phạm theo phạm vi cụ thể, người nghiên cứu cần chú ý một số điểm sau:
- Khi nghiên cứu thực trạng của tội phạm xét về mức độ, thông số về tổng tội phạm và tổng người phạm tội là yêu cầu chung cho mọi trường hợp; thông số về nạn nhân có thể được đặt ra trong các trường hợp có thể và cần thiết; các thông số khác cần cỏ để so sánh với thông số về tổng tội phạm và tổng người phạm tội có thể không giống nhau giữa các trường hợp nghiên cứu vì mỗi trường họp có nội dung nghiên cứu cụ thể riêng.
- Khi nghiên cứu thực trạng của tội phạm xét về tính chất, việc khảo sát các cơ cấu là yêu cầu chung cho mọi trường hợp nhưng khảo sát cơ cẩu theo tiêu chí nào có thể không giống nhau giữa các trường họp nghiên cứu. Việc chọn các cơ cấu nhất định để khảo sát là nhằm mục đích làm rỗ thực trạng của tội phạm xét về tính chất cũng như cung cấp cơ sở cho việc giải thích nguyên nhân của tội phạm.

Tóm lại, nghiên cứu thực ừạng của tội phạm tìieo phạm vi cụ thể đòi hỏi người nghiên cứu trên cơ sờỉlậ thuyết chung về tỉnh hình tội phạm phải xác định rõ các thông số Gần thu thập và nguồn cũng như cách thức thu thập các thông ,số đó sao cho cáe thông số này đủ cho phép mô tả được tranh” ũnh, toàn cảnh về đối tượng được nghiên cứu xét cả về mức độ (mặt định lượng) và về tính chất (mặt định tính) cũng như đủ cho phép giải thích dược các nguyên nhân của tội phạm là đối tượng được nghiên cứu.

Xem thêm : Thủ tục thành lập doanh nghiệp mới 

THỰC TRẠNG CỦA TỘI PHẠM (Phần 3)

THỰC TRẠNG CỦA TỘI PHẠM (Phần 3)


Thực trạng của tội phạm xét về tính chất
Đây là đặc điểm thứ hai của thực trạng của tội phạm. Đặc điểm này được nghiên cứu trên cơ sở nghiên cứu các cơ cấu cùa tội phạm. Qua cơ cấu của tội phạm theo tiêu thức nhất định có thể rút ra được nhận xét về tính chất của tội phạm.
Tội phạm là thể thống nhất của các tội phạm cụ thể đã xảy ra trong đơn vị không gian và thời gian xác định, trong đó tồn tại đan xen các hệ thống thống nhất khác nhau. Mỗi hệ thống thống nhất này là một loại cơ cấu của tội phạm theo một đặc điểm nhất định cùa tội phạm. Hay nói cách khác, tội phạm có hệ các cơ cấu theo hệ các tiêu thức khác nhau. Xem xét cơ cấu là xem xét tỉ trọng của từng bộ phận của mỗi cơ cấu để từ đó có thể rút ra được những nhận xét nhất định về tính chất của tội phạm. Như vậy, những cơ cấu của tội phạm cỏ thể được xem xét là những cơ cấu có thể phản ánh ở mức độ nhất định thực ừạng của tội phạm xét về tính chất. Cụ thể có thể là những cơ cấu sau:
- Cơ cấu theo các chương tội phạm của BLHS: Theo cơ cấu này phải xác định tỉ trọng tội phạm đã thực hiện thuộc từng chương cũng như tỉ ừọng người phạm tội của các tội đó so với tồng thể.
- Cơ cấu theo các tội danh (tội cụ thề) của BLHS: Theo cơ cấu này phải xác định tỉ trọng tội phạm đã thực hiện thuộc từng tội danh cũng như tỉ trọng người phạm tội của tội đó so với tổng thể.
- Cơ cấu theo 4 loại tội - Tội ít nghiêm trọng, tội nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng và tội đặc biệt nghiêm trọng (Điều 8 BLHS): Theo cơ cấu này phải xác định tỉ trọng của tội phạm đã thực hiện thuộc từng loại tội cũng như tỉ trọng người phạm tội của các loại tội đó so với tổng thể.
- Cơ cấu theo 2 loại tội - Tội cố ý, tội vô ý: Theo cơ cấu này phải xác định tỉ ừọng của tội phạm cố ý, tội phạm vô ý đã thực hiện cũng như tỉ trọng người phạm tội của các loại tội đó so với tổng thể.
- Cơ cấu theo đơn vị không gian xảy ra tội phạm: Đó là cơ cấu theo địa phương hoặc ngành, lĩnh vực.
- Cơ cấu theo hình thức thực hiện 1 Phạm tội riêng lẻ hay đồng phạm hay đồng phạm có tổ chức: Theo cơ cấu này phải xác định tỉ trọng của các hình thức phạm tội (đặc biệt là hình thức phạm tội có tổ chức) so với tổng thể.

- Cơ cấu theo loại (và mức) hình phạt đã tuyên: Theo cơ cấu này phải xác định tỉ trọng của các loại hình phạt đã áp dụng (đặc biệt là hình phạt từ hình, tù chung thân và hình phạt tù ở mức cao) so với tổng thể.

Xem thêm : Thủ tục thành lập doanh nghiệp mới 

Thứ Năm, 28 tháng 4, 2016

THỰC TRẠNG CỦA TỘI PHẠM (Phần 2)

THỰC TRẠNG CỦA TỘI PHẠM (Phần 2)

Hiện nay có các quan niệm khác nhau về vấn đề này. Có quan niệm cho rằng thuộc về thực trạng của tội phạm có thông số về nạn nhân; có quan niệm không đồng ý như vậy vì cho rằng hiểu như thế nào là nạn nhân và thống kê số lượng nạn nhân ờ các tội phạm không rõ ràng, đơn giản như xác định số tội phạm và số người phạm tội. Do vậy, dê có sự không thống nhất trong cách hiểu về nạn nhân và số nạn nhân. Hơn nữa, ờ những tội phạm nhât định mà việc xác định thông số này là có thể và khi xác định tồng “tội phạm đã xảy ra” cũng như tổng “người phạm tội” cũng cần chú ý:
- Con số về tội phạm với con số về vụ án cũng như con số về người phạm tội không phải luôn luôn trùng nhau. Một vụ án có thể có nhiều tội phạm và một tội phạm có thể có nhiều người thực hiện tội phạm; V.V..
- Thời điểm tội phạm xảy ra và thời điểm tội phạm được xét xử cũng như thời điểm được đưa vào thống kê tội phạm là khác nhau.
Tổng tội phạm đã xảy ra cũng như tổng người phạm tội (trong phạm vi đối tượng, phạm vi không gian và phạm vi thời gian) là các con số phản ánh thực trạng của tội phạm về mức độ. Bên canh các thông số này còn có các thông số khác cùng thể hiện thực trạng của tội phạm về mức độ. Đó là:
- Tổng số tội phạm và tổng số người phạm tội từng năm ừong đcm vị thòi gian đã xác định.
- Tổng số tội phạm và tổng số người phạm tội bình quân năm trong đon vị thòi gian đã xác định.
Để làm rõ hơn thực ữạng của tội phạm về mức độ cần đặt các thông số này trong sự so sánh với các thông số khác có liên quan. Ví dụ:
- Trong trường họp nghiên cứu tình hình tội phạm của một quốc gia, sự so sánh có thể là so sánh với các thông số tưong ứng của thể giới, của khu vực và của một số quốc gia khác.
- Trong trường hợp tình hình tội phạm được giới hạn trong đơn vị không gian nhất định thỉ sự so sánh cần được thực hiện với toàn quốc và với các đon vị không gian khác, đặc biệt là với các đơn vị không gian có các thông số cao nhất cũng như thấp nhất cũng như các đơn vị không gian có các điều kiện về kinh tế - xã hội tương tự. Vi dụ: Khi nghiên cửu tình hỉnh tội phạm cùa thành phổ Hải Phòng, có thể so sánh các thông số của Hái Phòng với các thông số tương ứng cùa Việt Nam, của thành phố Hà Nội, thành phố Đà Năng và thành phố Hồ Chí Minh cũng như của các địa phương (cấp tỉnh) có thông số tương ứng cao nhất và thấp nhất.
Trong trường hợp nghiên cửu tình hỉnh tội phạm cùa nhóm tội nhất định thì có thể so sánh với các thông số tương ứng của tất cả các tội phạm và của các nhỏm tội phạm khác, đặc biệt là của các nhóm tội phạm có số tổng lớn nhất hoặc nhỏ nhất để qua đó xác định vị trí về mức độ của nhóm tội phạm nghiên cứu.


Trong trường hợp nghiên cứu tình hình tội phạm của một tội phạm nhất định thì sự so sánh có thể là so sánh với các thông số tương ứng cùa tình hình tội phạm cùa tất cả các tội và của cả nhỏm tội mà tội đang nghiên cứu là bộ phận hợp thành cũng như cùa từng tội trong nhỏm, đặc biệt là cùa các tội có số tổng lớn nhất và nhò nhất để qua đỏ xác định vị trí (ừong phạm vi tất cả các tội phạm và trong phạm vi nhóm tội phạm) về mức độ của tội phạm nghiên cứu V.V.. Ví dụ: Khi nghiên cứu tội trộm căp tài sản, có the so sánh các thông số của tội phạm này với các thông số tương ứng cùa nhỏm tội chiếm đoạt, cùa nhóm tội xâm phạm sở hữu cũng như của các tội trong nhóm có số tổng lớn nhất và nhỏ nhất.
Xem thêm : Thủ tục thành lập doanh nghiệp mới 

Thứ Tư, 27 tháng 4, 2016

TÌNH HÌNH TỘI PHẠM NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG (Phần 4)

TÌNH HÌNH TỘI PHẠM NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG (Phần 4)

Tuy nhiên, trên thực tế chúng ta không trực tiếp có được từ thống kê tội phạm các số liệu về tội phạm rõ theo đúng nghĩa bởi hai lí do. Thứ nhất, chúng ta không có thống kê theo tiêu thức “bản án két tội đã có hiệu lực pháp luật” mà chi có thống kê theo các giai đoạn tố tụng, trong đó có thống kê tội phạm trong giai đoạn xét xử sơ thẩm. Thứ hai, thời điểm tội phạm xảy ra không trùng với thời điểm diễn ra các hoạt động tố tụng, giữa thời gian diễn ra xét xử sơ thẩm và thời gian tội phạm xảy ra ỉuôn có khoảng cách có thể là khoảng cách giữa năm này với năm khác. Tuy nhiên, chúng ta có thể và trên thực tế các công trình nghiên cứu cũng thường sừ dụng sổ liệu thống kê tội phạm trong giai đoạn xét xử sơ thẩm là số liệu cơ bàn khi đánh giá tình hình tội phạm vì đây là sổ liệu gần đúng nhất, là số liệu sát nhất với số liệu đúng ra phải có.
- Đặc điểm về phạm vi: Tội phạm luôn gắn với các phạm vi - phạm vi đối tượng, phạm vi không gian và phạm vi thời gian. Phạm vi đối tượng thường có ba mức độ: Phạm vi tất cả các tội phạm, phạm vi nhóm tội phạm (như nhóm tội tham nhũng, nhóm tội xâm phạm sở hữu...) và phạm vi tội phạm cụ thể (như tội giết
(1) Cách hiểu cụ thể về tội phạm rõ và tội phạm ẩn giữa các tác già có thể chưa thật thống nhất với nhau. Tuy nhiên, điều này cũng không thật quan trọng vì sự phân chia chi có tính tương đối. Điều quan trọng là khi nghiên cứu tình hình tội phạm, người nghiên cứu phải hiểu ràng, các số liêu thong kê chính thức mới chi phàn ánh được một phần cùa tội phạm.
(2) Hiện nay, có thể sử dụng số liệu thống kê cũa Cục thống kê tội phạm thuộc Viện kiềm sát nhân dân tôi cao. Khi nghiên cứu có thể sừ dụng đồng thời các số liệu của người, tội nhận hối lộ. Ngoài ra, các phạm vi đó còn có thể được giới hạn tiếp bởi đặc điểm nhất định của tội phạm (như giới hạn về chủ thề, về nạn nhân hoặc về loại lỗi...) hoặb được giói hạn bởi phạm vi ngành, lĩnh vực xảy ra (như lĩnh vực xây dựng, lĩnh vực ngân hàng hoặc ngành tư pháp). Phạm vi về không gian có thể là phạm vi toàn cầu, phạm vi khu vực, phạm vi toàn quốc, phạm vi vùng (như các tỉnh miền núi phía Bắc, các tỉnh đông băng sông Cửu Long), phạm vi địa phương (như thành phố Hà Nội, tỉnh Sóc Trăng). Phạm vi thời gian có thể là khoảng thời gian 5 năm, 10 năm hoặc trong giới hạn bởi mốc bắt đầu và mốc kết thúc nào đó. Tội phạm có thể gan với các phạm vi thời gian khác nhau. Tuy nhiên, phạm vi thời gian cần nghiên cứu tối thiểu thường là 5 năm vì đó là thời gian cần ửiiết để kết quả nghiên cứu, khảo sát có thê có đủ cơ sở giúp đánh giá được tĩnh hình tội phạm cũng như giải thích được nguyên nhân cùa tội phạm.

Đặc điểm về phạm vi của tội phạm đòi hỏi khi nghiên cửu tỉnh hình tội phạm, người nghiên cứu phải xác định rõ ràng ngay từ đầu các phạm vi này. Trong cả quá trình nghiên cứu, các phạm vi này luôn luôn phải được tuân thủ một cách thống nhất.

Xem thêm : Thủ tục thành lập doanh nghiệp mới